Với sự phát triển của khoa học hiện chúng ta có thể lưu trữ cả kho dữ liệu khổng lồ trong chiếc ổ cứng siêu nhỏ, nhưng trong quá khứ FBI phải sử dụng một căn phòng khổng lồ, hàng nghìn nhân viên để chứa các tệp tin dấu v
ân tay.
Lưu giữ dấu v
ân tay trong quá khứ
Phòng hồ sơ dấu v
ân tay của FBI, năm 1944.
Đây chính là căn phòng lưu giữ những tệp tin về dấu v
ân tay được Bộ phận Nhận dạng của FBI bắt đầu sử dụng trong Thế chiến thứ hai với mục đích thỏa mãn nhu cầu của các dịch vụ vũ trang. Tòa nhà này là DC Armory, một c?
? sở vận hành đa chức năng.
Đến năm 1942, FBI đã bổ sung 400.000 thẻ hồ sơ mỗi tháng vào kho lưu trữ của mình và nhận được 110.000 yêu cầu "kiểm tra tên" mỗi tháng. Đến năm 1944, cơ quan này đã chứa khoảng 23 triệu bản ghi thẻ, cũng như 10 triệu bản ghi dấu v
ân tay.
Xung quanh cuộc chiến, chính ph?
? liên bang đã đầu tư nguồn lực khổng lồ cho FBI để điều tra những kẻ đào ngũ và gián điệp tiềm năng. Đến cuối năm 1943, FBI đã tuyển dụng khoảng 13.000 người để làm việc tại đây.
Nhà khoa học người Pháp Paul-Jean Coulier đã phát triển một phương pháp truyền dấu v
ân tay tiềm ẩn trên bề mặt sang giấy bằng cách sử dụng i-ốt bốc khói. Nó cho phép London Scotland Yard bắt đầu lấy dấu v
ân tay cá nhân và xác định tội phạm sử dụng dấu v
ân tay vào năm 1901.
Năm 1924, một đạo luật của quốc hội đã thành lập Ban Nhận dạng của FBI. Cục Nhận dạng Hình sự Quốc gia của IACP và Cục Nhận dạng Hình sự của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã hợp nhất để tạo thành hạt nhân của các hồ sơ dấu v
ân tay của FBI. Đến năm 1946, FBI đã xử lý hơn 100 triệu thẻ v
ân tay trong các tệp được lưu trữ thủ công; và đến năm 1971, 200 triệu thẻ v
ân tay.
Ngay sau đó, các sở cảnh sát Hoa Kỳ đã áp dụng phương pháp tương tự và nhận dạng dấu v
ân tay đã trở thành thông lệ tiêu chuẩn ở Hoa Kỳ.
Vụ án Scheffer năm 1902 là vụ án đầu tiên xác định, bắt giữ và kết tội kẻ giết người dựa trên bằng chứng dấu v
ân tay.
Việc xác định cá nhân thông qua dấu v
ân tay để thực thi pháp luật đã được coi là thiết yếu ở Hoa Kỳ kể từ đầu thế kỷ 20. Nhận dạng cơ thể bằng cách sử dụng dấu v
ân tay cũng rất có giá trị trong việc khác phục hậu quả của thiên tai và các hiểm họa do con người gây ra.
Quá trình kiểm tra và tìm kiến dấu v
ân tay trong kho dữ liệu thường mất khá nhiều thời gian, các nhân viên thường phải kiểm tra rất kỹ hàng chục ngàn tập tài liệu theo cách thủ công.
Lưu giữ dấu v
ân tay ngày nay
Kể từ năm 1924, FBI là kho lưu trữ dấu v
ân tay duy nhất của Hoa Kỳ. Máy tính lần đầu tiên được cài đặt để tìm kiếm các tệp này vào năm 1980. Kể từ năm 1999, FBI đã lưu trữ và truy cập c?
? sở dữ liệu dấu v
ân tay của mình thông qua IAFIS
kỹ thu?
??t s??? (Hệ thống nhận dạng v
ân tay tự động tích hợp), hiện đang lưu giữ dấu v
ân tay và hồ sơ tội phạm của hơn 51 triệu đối tượng tiền án và hơn 1,5 triệu hồ sơ dấu v
ân tay dân sự (không phải tội phạm).
US Visit hiện đang nắm giữ một kho lưu trữ dấu v
ân tay của hơn 50 triệu người không phải là công dân Hoa Kỳ, chủ yếu ở dạng bản ghi hai ngón tay.
Kỷ nguyên của những ngăn kéo trượt chứa đầy các tập tin FBI cũ đang dần kết thúc. Hàng triệu thẻ dấu v
ân tay, thư mục tiền sử tội phạm và tệp danh tính dân sự từng chất đầy các hàng trên các dãy tủ và các kho khổng lồ đã được chuyển đổi dưới dạng số hóa. Việc chuyển đổi
kỹ thu?
??t s??? của hơn 30 triệu hồ sơ và hơn 83 triệu thẻ v
ân tay diễn ra khi FBI kích hoạt hoàn toàn hệ thống Nhận dạng Thế hệ Tiếp theo (NGI), một nền tảng
kỹ thu?
??t s??? hiện đại về sinh trắc học và các loại khác thông tin nhận dạng. Hệ thống đang dần thay thế Hệ thống nhận dạng v
ân tay tự động tích hợp của Cục, hay còn gọi là IAFIS.
Khi một nhân viên liên bang dân sự mới nộp dấu v
ân tay như một phần của quá trình kiểm tra lý lịch của họ, dấu v
ân tay sẽ được chuyển đến Bộ phận Dịch vụ Thông tin Tư pháp Hình sự (CJIS) của FBI ở Clarksburg, Tây Virginia.
Tại đó, văn phòng sẽ kiểm tra dấu v
ân tay dựa trên c?
? sở dữ liệu quốc gia về dấu v
ân tay tội phạm, đã có từ năm 1924.
Nhưng với việc văn phòng hiện nhận được gần 200.000 lượt gửi dấu v
ân tay mỗi ngày, các công cụ tự động hóa đã cho phép văn phòng xử lý hầu hết các yêu cầu gửi đến mà không cần bất kỳ sự can thiệp nào của con người.
Gary Stroupe, nhà phân tích chương trình và quản lý giám sát tại Đơn vị Phân tích và Nhận dạng Sinh trắc học CJIS, cho biết: "Khi chúng tôi áp dụng tự động hóa, mọi bước trong đó đều không cần đến sự can thiệp của con người, ít nhất là theo một nghĩa nào đó".
Trong quá khứ, khi chưa có máy tính và quy trình tự động hóa, ngay cả khi có tới hàng trăm nhân viên kiểm tra dấu v
ân tay được đào tạo và làm việc suốt ngày đêm, cơ quan này vẫn phải đối mặt với tình trạng tồn đọng ngày càng tăng, mức tồi tệ nhất lên tới một triệu lượt gửi dấu v
ân tay đang chờ đối sánh.
Tuy nhiên tất cả đã thực sự thay đổi vào những năm 1990, khi FBI áp dụng Hệ thống Nhận dạng V
ân tay Tự động Tích hợp và bắt đầu số hóa các dấu v
ân tay đến cũng như các dấu v
ân tay trong hồ sơ. Công nghệ này cho phép FBI xử lý công việc tồn đọng và cũng đẩy nhanh quá trình tìm kiếm tội phạm và kiểm tra lý lịch dân sự từ hàng tháng xuống hàng giờ.
Những nỗ lực này chỉ được tăng tốc nhờ bước đột phá công nghệ mới nhất, Hệ thống Nhận dạng Thế hệ Tiếp theo 2014, mang đến các thuật toán cải tiến cho phép cơ quan tự động hóa đến mức có thể xử lý tới 95% trong số 180.000 lượt gửi dấu v
ân tay hàng ngày mà không cần sự can thiệp của con người.
Nhìn lại quá khứ, Stroupe cho biết những nỗ lực tự động hóa của FBI đã mang lại nhiều lợi ích to lớn: Các đối tác thực thi pháp luật hiện có thể nhận được kết quả từ việc gửi dấu v
ân tay trong vài phút, thay vì vài tuần hoặc vài tháng. FBI hiện lưu trữ dấu v
ân tay của mình bằng
kỹ thu?
??t s??? và tiết kiệm chi phí lưu trữ vật lý hồ sơ dấu v
ân tay. Và văn phòng đã chuyển hàng trăm nhân viên sang các công việc thực thi pháp luật quan trọng khác của liên bang.
(Theo Trí Thức Trẻ)
FBI khuyên vận động viên dùng điện thoại dự phòng tại Olympic Bắc Kinh 2022
Các vận động viên tham dự Thế vận hội Mùa đông Bắc Kinh 2022 nên có thêm một thứ trong hành trang, đó là điện thoại dự phòng.
Nguồn bài viết : Kết quả bóng đá